Gỡ “nút thắt” trong hoạt động cấp nước tại các khu đô thị
9 10 13709

Gỡ “nút thắt” trong hoạt động cấp nước tại các khu đô thị

Trong thời gian qua, hệ thống cấp nước các đô thị Việt Nam đã được cải thiện một cách đáng kể. Tuy nhiên cơ sở hạ tầng các đô thị còn yếu kém nhất là giao thông, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhằm giải quyết tình trạng này, Bộ Xây dựng đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 07-1:2016/BXD “Các công trình hạ tầng kỹ thuật công trình cấp nước”.

anh minh hoa
Không để thiếu nước sinh hoạt đô thị trong mùa hè

 

Hiện nay toàn bộ 63 thành phố, thị xã tỉnh lỵ trong cả nước đã có các dự án cấp nước ở các mức độ khác nhau. Tổng công suất thiết kế đạt 3,42 triệu m3/ngđ. Nhiều nhà máy được xây dựng trong thời gian gần đây có dây truyền công nghệ xử lý và thiết bị khá hiện đại. Trong 670 đô thị vừa và nhỏ (loại IV và loại V) đã có khoảng 200 thị xã, thị tứ có hệ thống cấp nước tập trung quy mô từ 500 đến 2.000, 3.000 m3/ngđ được xây dựng từ nhiều nguồn vốn và do nhiều cơ quan, doanh nghiệp quản lý.

Trước nhu cầu đổi mới, Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 07-1:2016/BXD được ban hành nhằm thay thế Chương 2 trong Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 07:2010/BXD “Các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị” được ban hành theo Thông tư số 02/2010/TT-BXD ngày 05/02/2010 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

Quy chuẩn QCVN 07-1:2016/BXD áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có các hoạt động liên quan đến đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp và quản lý vận hành các công trình cấp nước.

Nước mặt phải được khai thác đảm bảo an toàn

Công trình khai thác nước mặt phải bảo đảm đủ công suất thiết kế, khi phân đợt xây dựng, công trình khai thác phải xây dựng toàn bộ ngay từ đầu. Công trình làm việc an toàn, ổn định, bền lâu; không gây ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của nguồn cấp nước và giao thông đường thủy. Quy định về khoảng cách tối thiểu giữa mực nước thấp nhất đến đỉnh của cửa thu hoặc ống thu là 0,5 m; tính toán với chu kỳ lặp 50 năm, phải tính đến khả năng súc xả, nạo vét bùn cặn, vớt rác.

Cửa thu nước kiểu thường xuyên ngập được đảm bảo sao cho khi thu nước không tạo xoáy trên mặt nước, xây dựng cửa thu nước trong luồng chạy của các phương tiện giao thông đường thủy, trong luồng di chuyển của cát và phù sa ñáy sông hoặc khu vực có rong tảo phát triển. Mực nước các mùa dao động từ 6m trở lên phải bố trí 2 hàng cửa thu nước ở độ cao khác nhau. Khoảng cách theo chiều cao giữa 2 hàng cửa tối thiểu là 3 m.

Ngoài ra, nếu thu nước từ tầng chứa nước là cát hoặc cuội sỏi lẫn cát, ống lọc phải được chèn bằng sỏi thạch anh sạch, tròn cạnh, chiều dày lớp sỏi chèn tối thiểu là 75 mm. Khoảng trống giữa các ống vách, giữa ống vách và thành lỗ khoan phải được chèn kỹ bằng vữa xi măng hoặc sét viên sấy khô. Lớp chèn phía trên tầng khai thác phải bằng sét viên sấy khô có chiều sâu không nhỏ hơn 5 m tính từ mặt trên của tầng khai thác.

Nghiêm cấm bơm hút dung dịch độc hại

Trong gian máy của trạm bơm không cho phép đặt máy bơm dung dịch độc hại và có mùi hôi, ngoại trừ trường hợp dùng máy bơm cấp dung dịch tạo bọt để chữa cháy. Phần chìm dưới mặt đất của trạm bơm phải được xây dựng bằng bê tông cốt thép. Nếu tường nằm dưới mực nước ngầm phải phủ một lớp vật liệu chống thấm ở sàn đáy, mặt trong và mặt ngoài tường.

Số lượng ống hút chung phải ít nhất là 2 ống, đối với trạm bơm có công suất nhỏ hơn 3.000 m3/ngày cho phép đặt 1 ống hút. Miệng vào ống hút phải đảm bảo sao cho khi máy bơm làm việc không tạo xoáy trên bề mặt và không hút cặn ở đáy bể hút.

Nếu các bơm có ống hút nối chung thì phải đặt van trên ống hút của từng bơm và trên ống nối chung. Số lượng van trên ống nối chung có thể tách bất kỳ một máy nào hay một đoạn ống nào ra mà trạm bơm vẫn cấp được 70% lưu lượng nước tính toán.

Trên đường ống hút, ống đẩy của từng máy bơm và ống góp chung phải lắp đặt mối nối mềm ở gần các cụm van để tháo lắp, bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế máy bơm và thiết bị khi cần thiết.

Mạng lưới cấp nước vẫn có thể hoạt động khi có sự cố

Mạng lưới đường ống cấp nước chia thành 3 cấp. Nghiêm cấm việc đấu nối từ đường ống của đối tượng dùng nước với đường ống của mạng cấp I hoặc cấp II.

Số lượng các đường ống truyền tải nước từ trạm bơm đến điểm đầu của mạng lưới cấp nước phải tính đến bậc tin cậy của hệ thống cấp nước và không ñược nhỏ hơn 2.

Đường kính ống dẫn và các ống nối phải đảm bảo tối thiểu 70% lượng nước thiết kế khi có sự cố trên một ống. Mạng lưới đường ống cấp nước phải là mạng lưới vòng. Đường kính tối thiểu của mạng lưới cấp nước sinh hoạt kết hợp với chữa cháy trong các khu đô thị phải là 100 mm.

Vật liệu ống, lớp tráng trong phải đảm bảo độ bền về cơ học, hóa học và không ảnh hưởng đến chất lượng nước. Trên các đường ống truyền dẫn và mạng lưới ống phân phối phải đặt các thiết bị để kiểm soát lưu lượng, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, xả khí, xả cặn xúc xả đường ống, giảm áp và ổn định áp lực, mối nối mềm.

baoxaydung.com.vn

[Trở về] [Đầu trang] In bài viết Gửi cho bạn bè

Các tin khác:
Story
Mở tuyến taxi nước Hồ Tây: Nên “cởi mở” với những ý tưởng mới
“Để tránh ùn tắc giao thông, nhiều nước trên thế giới đã áp dụng thành công mô hình taxi nước. Việc này không những giảm tải được ách tắc giao thông, mà còn đồng thời kết hợp phát triển du lịch. Chúng ta nên tổng kết lại các mô hình hiện đại của thế giới và dựa trên cơ sở đó áp dụng cho giao thông Hà Nội”.
Thăm dò ý kiến
Bạn thường lấy văn bản pháp lý về xây dựng từ đâu?
Download trên mạng
Đi mua
Từ cơ quan
Từ bạn bè đồng nghiệp
ntm
Thống kê truy cập
Số người online:   0007
Lượt truy cập   3640799