Đô thị hóa ở Trung Quốc - Bài học kinh nghiệm phát triển bền vững cho Việt Nam
9 10 9781

Đô thị hóa ở Trung Quốc - Bài học kinh nghiệm phát triển bền vững cho Việt Nam

Trung Quốc thực hiện đường lối “cải cách mở cửa” từ năm 1978, nhưng mãi 10 năm sau, đến 1988 tỷ lệ đô thị hóa mới bắt đầu nhích khỏi cái mốc nhiều năm là 20% để tăng nhanh đến 30% năm 1996, rồi đạt 40 % năm 2003 và 50% năm 2012. Bộ Kiến thiết nước này dự báo tỷ lệ đó sẽ cán mốc 60% vào năm 2020 và 70% (với 900 triệu dân đô thị) vào năm 2025[1]. Chủ tịch Hội Địa lý Trung Quốc, giáo sư Lư Đạt Đạo nhận xét Trung Quốc chỉ cần 22 năm để đưa tỷ lệ đô thị hóa từ 17,9% lên 39,1%, còn nước Anh cần 120 năm, Hoa Kỳ cần 80 năm và Nhật Bản cũng phải hơn 30 năm!

 


(ảnh minh họa: The Atlantic Cities) 

Quy mô đô thị hóa ở Trung Quốc là vô tiền khoáng hậu. Theo đánh giá của Karen Seto[3] thì đó là một quá trình chuyển đổi vừa phức tạp vừa tế nhị, đang tiếp tục diễn ra với nhiều cách tiếp cận khác nhau của các đô thị đối với các chủ đề môi trường, tốc độ phát triển và kết nối toàn cầu. Hiển nhiên những gì diễn ra trong đô thị đều tác động tới phát triển kinh tế và tình trạng môi trường của quốc gia. Đô thị đặt ra nhiều vấn đề về môi trường và xã hội và cũng đưa ra giải pháp cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao nhiều mặt chất lượng cuộc sống… Chính vì lẽ đó mà đô thi hóa Trung Quốc là chủ đề nghiên cứu rất được coi trọng không chỉ ở Trung Quốc mà cả trong giới học thuật quốc tế. Còn Chính phủ Trung Quốc xem đô thị hóa là một trong số mười chủ đề quan trọng về phát triển quốc gia trong giai đoạn tới. 

Có thể khảo sát đô thị hóa Trung Quốc qua nhiều lối tiếp cận khác nhau. Bài này đưa ra tổng quan về đô thị hóa Trung Quốc từ góc nhìn phát triển bền vững, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho việc xây dựng chính sách đô thị hóa bền vững của Việt Nam. Để có cái nhìn khách quan từ nhiều phía, bài viết một mặt dựa trên tư liệu Trung Quốc, đặc biệt là bộ sách đồ sộ gồm 5 quyển báo cáo kết quả nghiên cứu đô thị hóa của Dự án Tư vấn trọng điểm quốc gia của Viện Hàn lâm Công trình Trung Quốc[4], đồng thời cũng tham khảo các tư liệu quốc tế có liên quan.

Quá trình đô thị hóa của Trung Quốc 

Từ khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949 đến nay, quá trình đô thị hóa có thể chia thành 4 thời kỳ[2,4,5]:

1. Thời kỳ 1950-1980. Trong thời kỳ này, đô thị được xem là nơi chủ yếu để phát triển công nghiệp, nhưng về chính sách lại tránh phát triển các đô thị lớn mà chú trọng phân bố công nghiệp vào các đô thị vừa và nhỏ trên cả nước. Thời kỳ dài 30 năm này có thể chia thành 2 giai đoạn: i) Giai đoạn 1950-1960 là giai đoạn đô thị hóa lành mạnh, tỷ lệ đô thị hóa tăng nhanh từ 10,67% năm 1949 lên đến 19,7% vào năm 1960, nhưng rồi phong trào “đại nhảy vọt” (1958-1960) để công nghiệp hóa và cả nước làm gang thép thất bại đã làm cho kinh tế đô thị cũng như kinh tế cả nước sa sút; ii) Giai đoạn 1961-1980 là giai đoạn bất bình thường, tỷ lệ đô thị hóa tụt xuống rồi dao động trong khoảng 17-18% trong 10 năm từ 1966 đến 1976, phải đến 1980 mới gần khôi phục được mức cũ, đạt 19,39%!

Dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, Chính phủ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng quy mô lớn, đồng thời tiến hành quy hoạch lãnh thổ quốc gia nhằm bố trí phòng ngự trong trường hợp có chiến tranh với Liên Xô hay các nước đế quốc, vì vậy chính sách đô thị thiên về phát triển công nghiệp và đảm bảo an ninh quốc phòng. Năm 1964, Chính phủ đưa ra chương trình “tuyến ba” nhằm di chuyển các nhà máy quan trọng và công nhân từ “tuyến một” ven biển và “tuyến hai” ở trung tâm lùi vào “tuyến ba” ở vùng núi non miền Tây. Nhằm hạn chế sự bành trướng của các đô thị lớn, Chính phủ chủ trương phân đều nhà máy về các đô thị loại vừa, và mỗi đô thị cũng chỉ một đến hai nhà máy mà thôi. Do địa điểm bất lợi, phần lớn các nhà máy này sau đó bị đóng cửa vào cuối thập kỷ 80. Để giữ chân nông dân ở lại nông thôn, Chính phủ đề ra chế độ kiểm soát “hộ khẩu” rất nghiêm ngặt và đẩy mạnh phát triển “xí nghiệp hương trấn”. Các phong trào tả khuynh như “Đại nhảy vọt” và tiếp theo là “Cách mạng văn hóa” (1966-1976) đã tàn phá nền kinh tế và gây ra nạn đói. Trong Cách mạng văn hóa, hơn 26 triệu thanh niên đô thị đã về nông thôn dưới khẩu hiệu “thượng sơn hạ hương” để giảm bớt áp lực việc làm trong đô thị.

2. Thời kỳ 1980-1995. Năm 1978, Trung Quốc thay đổi mạnh mẽ các chính sách và chiến lược phát triển, thực hiện đường lối “cải cách mở cửa”, bắt đầu bằng chế độ khoán cho hộ nông dân và mở mang doanh nghiệp hương trấn để thu hút lao động phi nông nghiệp. Đến 1984 bắt đầu coi trọng vai trò các đô thị, nhờ đó tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP cả nước đã từ 24,5% năm 1985 tăng lên đến 34,3 năm 1992. Năm 1989, Luật Quy hoạch đô thị được ban hành. Năm 1992 Đại hội Đảng lần thứ XIV đưa ra mục tiêu “phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, do đó coi trọng phát triển thương mại trong đô thị, khiến quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh. Các nhà lãnh đạo lần đầu tiên tuyên bố chuyển từ quan điểm hạn chế phát triển các đô thị lớn sang đề cao tầm quan trọng của chúng.

Trọng tâm phát triển của thời kỳ này là các đô thị “mở cửa” tại vùng duyên hải và các “đặc khu kinh tế”. Năm 1980, 3 đặc khu Thâm Quyến, Chu Hải và Sán Đầu thuộc tỉnh Quảng Đông và đặc khu Hạ Môn thuộc tỉnh Phúc Kiến được thành lập. Tiếp đó, năm 1984 Trung Quốc “mở cửa” cho vốn đầu tư nước ngoài đổ vào 14 thành phố cảng biển là Đại Liên, Tần Hoàng Đảo, Thiên Tân, Thanh Đảo, Yên Đài, Liên Vận Cảng, Nam Thông, Thượng Hải, Ninh Ba, Ôn Châu, Phúc Châu, Quảng Châu, Trạm Giang và Bắc Hải, rồi đến năm 1985 Chính phủ quyết định mở rộng “vành đai duyên hải mở cửa”, ngoài các đặc khu và thành phố nói trên còn bao gồm thêm hai tam giác châu các sông Trường Giang, Châu Giang và tam giác đồng bằng Hạ Môn-Chương Châu-Tuyền Châu ở Nam Phúc Kiến, hai bán đảo Sơn Đông và Liêu Đông trên vịnh Bột Hải, cùng với hai tỉnh Hà Bắc và Quảng Tây, rồi đến năm 1988 cả một tỉnh là Hải Nam được chỉ định thành đặc khu kinh tế. Năm 1990 một chuỗi 6 thành phố dọc sông Trường Giang được mở cửa, hình thành con rồng với đầu rồng là khu đô thị mới Phố Đông thuộc Thượng Hải, và năm 1992 mở cửa 11 thành phố biên giới. Ngoài ra, còn thành lập 15 khu mậu dịch tự do, 32 thành phố và khu phát triển kinh tế và công nghệ cấp quốc gia, và 53 khu đô thị mới công nghệ cao trong các đô thị lớn và vừa. Các đặc khu kinh tế ban đầu chỉ có mục tiêu là đưa ra các chính sách ưu đãi và áp dụng cơ chế đặc thù nhằm thu hút vốn FDI và xuất khẩu sản phẩm chế biến, nhưng dần dần trở thành các mô hình dẫn đầu cả nước trong việc áp dụng các hệ thống quản lý mới, nâng cấp công nghiệp và mở rộng hội nhập với thế giới bên ngoài, chẳng hạn năm 1999 Thâm Quyến đã sản xuất 82 tỷ NDT các sản phẩm công nghệ mới và công nghệ cao, chiếm 40,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, đứng đầu cả nước.

Năm 1982, để kích thích kinh tế đô thị phát triển và mở rộng thị trường lao động đô thị, Trung ương Đảng và Chính phủ tuyên bố “cho phép nông dân vào thành”, nhờ đó tỷ lệ đô thị hóa đã từ 19,39% năm 1980 tăng lên đến 29,04% năm 1995. Trong giai đoạn 1984-1992 đô thị hóa chủ yếu dựa vào phát triển các đô thị mới, nên chỉ trong 8 năm số thành phố (thị) từ 300 đã tăng đến 517, số thị trấn (trấn) từ 9140 tăng lên 14539!

Năm 1992, sau khi Đặng Tiểu Bình tuần du khảo sát phương Nam và phát biểu ý kiến, công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc tiến lên cao trào mới, đổi mới cơ chế quản lý tài chính, tiền tệ và ngoại hối, khiến khu vực kinh tế tư nhân tăng trưởng nhanh chóng, thúc đẩy đô thị hóa chuyển sang giai đoạn mới.

3. Thời kỳ từ 1995 đến 2014. Các cải cải kinh tế và xã hội được triển khai mạnh mẽ. Chính phủ tích cực đẩy mạnh đô thị hóa, chuyển hướng chiến lược từ “tích cực phát triển đô thị nhỏ” sang “từng bước thúc đẩy quá trình đô thị hóa”. Đại hội Đảng thứ XVI đề ra mục tiêu 20 năm phát triển “xã hội no ấm”(tiểu khang xã hội) với nhiều chỉ tiêu cụ thể, trong đó có một số chỉ tiêu như: đến 2020 tỷ lệ đô thị hóa vượt ngưỡng 50%, cơ bản hoàn thành công nghiệp hóa, tỷ lệ lao động nông nghiệp chỉ còn chiếm 30% tống số lao động, GDP đầu người vượt 3000 USD. Kinh tế đô thị đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh. Đô thị hóa tăng trưởng chủ yếu dựa vào cải tạo các đô thị hiện có, coi trọng cả hai mặt chất lượng và số lượng.

Năm 1994 Trung Quốc cải cách chế độ tài chính, thực hiện phân cấp ngân sách, trao nhiều quyền tự chủ tài chính cho các đô thị, nhất là về quản lý đất đai, khiến đô thị nhờ cho thuê đất mà có nhiều nguồn lực tài chính để phát triển nhà ở và công trình hạ tầng. Vốn FDI đổ vào nhiều và thị trường bất động sản bùng nổ khiến kinh tế cả nước phát triển nhanh. Nông dân bỏ ruộng và rời bỏ cả xí nghiệp hương trấn, lũ lượt kéo nhau ra thành phố kiếm việc. Các đô thị lớn tăng trưởng mạnh mẽ, nhất là các đô thi ven biển và các Vùng đô thị lớn (Metropolis) và Siêu vùng đô thị lớn (Megacities), như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thâm Quyến. Kế hoạch 5 năm thứ 11 (2006-2010) nhấn mạnh việc phát triển các vùng đô thị lớn này để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một số đô thị lớn được quốc tế xếp loại “đô thị toàn cầu” (global cities).

Về mặt chính sách, năm 1998 trong văn kiện “Quyết định một số vấn đề quan trọng của nông nghiệp và nông thôn” TƯ Đảng đưa ra “Chiến lược lớn về đô thị nhỏ”, giúp các đô thị nhỏ phát triển mạnh mẽ. Năm 1999 Trung Quốc đưa ra chiến lược “Phát triển lớn miền Tây” bao gồm 6 tỉnh, 5 khu tự trị, còn thành phố Trùng Khánh với 11 triệu dân (2015) được chuyển thành thành phố thứ tư trực thuộc Trung ương, trở thành thủ phủ miền Tây. Ngoài Trùng Khánh, các thành phố tỉnh lỵ như Thành đô (7,8 triệu dân), Tây An, Côn Minh, Nam Ninh… cũng được đầu tư lớn và tăng trưởng nhanh chóng. Năm 2003, Trung Quốc ban hành chính sách “Chấn hưng các địa bàn công nghiệp cũ Đông Bắc” (2003) gồm 3 tỉnh Đông Bắc và 5 huyện phía Đông khu tự trị Nội Mông, đẩy mạnh tái phát triển các thành phố công nghiệp Cáp Nhĩ Tân, Trường Xuân, Thẩm Dương, Đại Liên. Tiếp đó, năm 2004 công bố “Chiến lược quật khởi miền Trung” gồm dải 6 tỉnh nội địa kẹp giữa vùng duyên hải và miền Tây, xúc tiến phát triển các thành phố dọc theo tuyến đường sắt chiến lược Bắc Nam nối Bắc Kinh-Vũ Hán-Quảng Châu, và dọc theo tuyến đường sắt Đông Tây nối Liên Vận Cảng-Lan Châu, với Trịnh Châu là giao điểm của hai tuyến này. Năm 2008 Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch Khu kinh tế Vịnh Bắc bộ Quảng Tây” với tham vọng đưa thành phố Nam Ninh và 4 thành phố cảng Đông Hưng, Phòng Thành, Khâm Châu và Bắc Hải trên Vịnh Bắc Bộ trở thành cửa ngõ và đầu cầu kết nối nội địa Trung Quốc với Đông Nam Á, thông qua “hai hành lang và một vành đai” kết nối Quảng Tây và Vân Nam với miền Bắc Việt Nam[6].

Tóm lại, trên cơ sở các chính sách phát triển theo vùng, các thành phố đã phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển kinh tế thần kỳ và đưa Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ hai trên thế giới. Tỷ lệ đô thị hóa từ 29,04% năm 1995 đã tăng lên đến 53,7% năm 2013.

Thế nhưng cũng trong thời kỳ đô thị hóa này đã xuất hiện những xu hướng không lành mạnh. Vì xem tỷ lệ đô thị hóa cũng quan trọng như tăng trưởng GDP nên lãnh đạo các tỉnh xem kết quả đạt được hai chỉ tiêu này như là “chính tích” (thành tích chính trị), do đó không nghiên cứu yêu cầu của thị trường, chạy theo các dự án đại quy mô, mê mải kêu gọi đầu tư, quá đề cao “kinh doanh đô thị” (urban marketing), chạy theo lợi ích cục bộ, lợi ích trước mắt mà xem nhẹ các vấn đề phát triển hài hòa, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, và bảo vệ môi trường. Các thành phố chỉ xem nông dân nhập cư như là nguồn lao động giá rẻ chứ không xem họ là dân đô thị, nên không chăm lo giải quyết các nhu cầu nhà ở, bảo hiểm y tế và việc học hành cho con cái họ.

4. Thời kỳ hiện tại tiếp nối 3 thời kỳ trên, bắt đầu từ năm 2014 với việc chính phủ ban hành văn kiện “Quy hoạch quốc gia về đô thị hóa kiểu mới”. Đến cuối kỳ hạn quy hoạch 2014-2020, dự báo tỷ lệ đô thị hóa sẽ đạt 60%, tỷ lệ dân đô thị được hưởng bảo hiểm xã hội từ 66.9% năm 2012 lên hơn 90% năm 2020, tỷ lệ bảo hiểm y tế từ 95% lên 98%, diện bao phủ dịch vụ cấp nước từ 81,7 lên 90%, xử lý nước thải từ 87,3 lên 95%, xử lý rác thải từ 84,8% lên 95%, giảm tỷ lệ sử dụng đất xuống dưới 100 m2 /người. Nhà nước khuyến khích quy hoạch đô thị theo hướng đô thị nén, sử dụng đất hỗn hợp, phát triển đô thị theo định hướng vận tải công cộng (TOD), xây nhiều nhà ở xã hội. Để tạo nguồn tài chính cho phát triển, chính quyền đô thị được phát hành trái phiếu và thu thuế tài sản.

Nhận thấy các siêu vùng đô thị lớn là những cực tăng trưởng tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nên gần đây Trung Quốc đã sát nhập các vùng đô thị lớn để thành lập hai siêu vùng đô thị khổng lồ là Thành phố Tam giác châu Chu Giang (Quảng Đông) rộng 39 380 km2 với số dân 63 triệu người (kể cả dân nhập cư), và Thành phố Kinh-Tân-Ký (Bắc Kinh-Thiên Tân-Hà Bắc) rộng 215.870km2 với số dân 110 triệu người. Chính phủ có những dự án đầu tư công trình hạ tầng to lớn, đặc biệt là giao thông tốc độ nhanh, để phát triển hai siêu thành phố này mà quy mô không tiền khoáng hậu đã khiến toàn thế giới sửng sốt!

Hiện nay Trung Quốc đang xúc tiến thực hiện chủ trương xây dựng “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa”, kết nối Thượng Hải và nhiều chuỗi đô thị sâu trong lục địa theo tuyến thứ nhất phía Bắc qua Mông Cổ và Nga để đến Bắc Âu, theo tuyến thứ hai phía Tây qua Trung Á và tuyến thứ ba phía Nam qua Đông Nam Á, Nam Á và Trung đông đến Trung Âu. Đến năm 2014 lại công bố “Con đường tơ lụa trên biển Thế kỷ 21”, khởi đầu từ Quảng Châu kết nối với các nước trên bờ Biển Đông, qua Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải rồi cuối cùng đến Nam Âu. Chiến lược nói trên, được mệnh danh là “Sáng kiến một vành đai và một con đường”, ngoài các mục đích khác còn nhằm tạo thêm động lực phát triển cho các đô thị Trung Quốc nơi chúng đi qua. 


(nguồn: Ashui.com) 

Hiện trạng đô thị Trung Quốc

Trong những năm 1978~2012, tỷ lệ đô thị hóa Trung Quốc bình quân tăng 1,01% mỗi năm. Từ “cải cách mở cửa” đến nay, trước sau có khoảng 500 triệu nông dân đã nhập cư đô thị.

Đến cuối năm 2014, tỷ lệ đô thị hóa Trung Quốc đạt 54,7% và nếu mỗi năm tăng thêm 1% thì đến năm 2020 tỷ lệ đó sẽ vượt mức 60%. Trung Quốc hiện có 1,35 tỷ dân, như vậy mỗi năm có thêm 13,5 triệu dân đô thị! Tính đến 2011, cả nước có 657 thành phố cấp tỉnh, 1627 thành phố cấp huyện. Bốn thành phố đông dân nhất năm 2015 là Thượng Hải (23 triệu dân), Bắc Kinh (18 triệu dân), Quảng Châu (12,4 triệu dân) và Thâm Quyến (12,3 triệu dân). Cả nước có 19 683 thị trấn. Bức ảnh vệ tinh chụp một phần Trái đất về đêm giúp chúng ta hình dung rõ phạm vi và mật độ phân bố đô thị Trung Quốc, đồng thời có cái nhìn so sánh với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Ấn Độ.

Kể từ 1978 đến nay, mức thu nhập bình quân đầu người dân đô thị đã tăng 10,5 lần. Năm 2011, diện tích nhà ở bình quân đầu người là 31,6m2, độ bao phủ cấp nước đô thị đạt 97,1%, nước thải được xử lý đạt 82,6%, diện tích đô thị được phủ xanh 38,22%, diện tích công viên cây xanh đầu người đạt 10,95%. Có 20 thành phố được trao Giải thưởng môi trường định cư của Liên Hợp Quốc.

Cả nước có 12 thành phố có tàu điện ngầm với tổng chiều dài hơn 1500km, 25 thành phố đang xây dựng hơn 1500km nữa, và 28 thành phố có dự án tàu điện ngầm dài 3090km đã được phê duyệt.

Kết quả nghiên cứu của Leman[7] cho biết năm 2005 Trung Quốc có 53 “quần thể đô thị” (Metropolitan Regions), mỗi quần thể quây quần quanh đô thị lõi có 1 triệu dân trở lên. Là những cỗ máy kinh tế đông tới 370 triệu dân (29% số dân cả nước), các quần thể này đóng góp 53% GDP cả nước. Còn theo số liệu của Ủy ban Cải cách và Phát triển Trung Quốc thì 10 quần thể đô thị chủ yếu của nước này với số dân phi nông nghiệp mỗi vùng trên 10 triệu người là:

  1. Kinh-Tân-Ký trên địa giới Bắc Kinh, Thiên Tân và tỉnh Hà Bắc (biệt danh là Ký), gồm 9 thành phố lớn (Bắc Kinh, Thiên Tân, Đường Sơn, Thạch Gia Trang...) với số dân khoảng 110 triệu người;
  2. Tam giác châu Chu Giang trên địa giới tỉnh Quảng Đông, gồm 11 thành phố lớn (Quảng Châu, Phật Sơn, Hồng Công, Áo Môn, Thâm Quyến, Chu Hải…) với tổng số dân trong khoảng 63 triệu người;
  3. Tam giác châu Trường Giang trên địa giới Thượng Hải và 3 tỉnh Giang Tô, Triết Giang và An Huy, gồm 22 thành phố lớn (Thượng Hải, Tô Châu, Vô Tích, Hàng Châu, Ninh Ba, Nam Kinh…) với số dân khoảng 90 triệu người;
  4. Bán đảo Sơn Đông trên địa giới tỉnh Sơn Đông, gồm hai thành phố lớn Tế Nam và Thanh Đảo với số dân khoảng 28 triệu người;
  5. Trung Nam Liêu Ninh trên địa giới tỉnh Liêu Ninh, gồm hai thành phố lớn Thẩm Dương và Đại Liên với số dân khoảng 27 triệu người;
  6. Đồng bằng Trung Nguyên trên địa giới tỉnh Hà Nam, gồm 3 thành phố lớn Trịnh Châu, Khai Phong và Lạc Dương;
  7. Trung du Trường Giang trên địa giới 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam, gồm thành phố lớn Vũ Hán;
  8. Bờ Tây eo biển Đài Loan trên địa giới tỉnh Phúc Kiến, gồm 2 thành phố lớn Phúc Châu và Hạ Môn;
  9. Thành Du trên địa giới Trùng Khánh và tỉnh Tứ Xuyên, gồm 2 thành phố lớn Thành Đô và Trùng Khánh (biệt danh là Du);
  10. Quan Trung trên địa giới tỉnh Thiểm Tây, gồm 4 thành phố lớn Tây An, Hàm Dương, Bảo Kê và Vị Nam.

Thế nhưng bên cạnh các vùng đô thị phát triển sôi động thì trong quá trình đô thị hóa cũng đã xuất hiện những “thành phố ma” (quỷ thành) nổi tiếng[8], như:

  • Kangbashi, một quận mới cách 25km tới khu trung tâm Đông Thành thuộc thành phố Ordos Khu tự trị Nôi Mông, xây năm 2003, rộng 35km2 có thể chứa 30 vạn dân nhưng nay không có mấy người ở;
  • Trình Cống, một quận của thành phố Côn Minh lập năm 1956, rộng 461km2 nhưng đến năm 2012 mới có 35 vạn dân (mật độ 760 ng/km2), bỏ hoang 10 vạn căn hộ;
  • Vu Gia Bảo cách trung tâm Khu đô thị mới Tân Hải 10km và trung tâm thành phố Thiên Tân 40 km, là một bán đảo rộng 3,86km2 được đầu tư 200 tỷ NDT để phát triển thành trung tâm tài chính thế giới, định khánh thành vào tháng 6/2014 nhưng đã ngừng xây dựng;
  • Thành phố sinh thái Trung Quốc-Singapore (Trung-Tân Thiên Tân sinh thái thành, gọi tắt là Kinh-Tân Thị) là thành phố rộng 53km2 do Singapore (Tân Gia Ba) đầu tư phát triển theo mô hình khu Phố Đông Thượng Hải, cách Thiên Tân 40 km và Bắc Kinh 150km, khởi công năm 2008 và dự định năm 2020 chứa được 35 vạn dân, hiện có 3000 biệt thự không người ở và rất nhiều công trình công cộng bị bỏ hoang;
  • Thành phố mới Thần Mộc tại vùng mỏ than cực lớn phía Bắc tỉnh Thiểm Tây được đầu tư xây dựng khi giá than rất cao, đến năm 2013 giá than giảm nhiều nên công việc xây dựng trên 11,3km2 bị đình đốn, 100 tòa chung cư cho 10 vạn dân bị bỏ hoang cho tới nay;
  • Thị trấn Thiên Đô ở ngoại thành Hàng Châu, rộng 30km2, khánh thành năm 2007, được quy hoạch làm đô thị giải trí mô phỏng Paris với tháp Eiffel cao 108 m, quy mô 1 vạn dân nhưng hiện chỉ có 2000 dân;
  • Công viên giải trí tại thôn Trần Trang cách Bắc Kinh 32km, rộng 49 ha, dự định trở thành công viên dạng Disneyland lớn nhất châu Á, đang xây dở thì dừng lại vào năm 1998, đến năm 2008 khôi phục xây dựng rồi lại dừng.

Khác với "thành phố ma" hiện đại trên thế giới là những thành phố ở vào thời kỳ suy tàn, các thành phố ma của Trung Quốc đều mới xây dựng trong 20 năm lại đây nhưng chưa có người ở hoặc người ở quá ít. Nguyên nhân chủ yếu là do chính quyền địa phương chạy theo “chính tích”, quản lý yếu kém gây thất thoát và lãng phí, mắc sai lầm trong chỉ đạo quy hoạch đô thị, còn thị trường bất động sản phát triển mù quáng, nặng tính đầu cơ hoặc rơi vào suy thoái. Vì vậy thực ra phần lớn các thành phố gọi là “ma” này là những khu vực đô thị phát triển quá sớm, quy mô quá lớn so với nhu cầu hiện tại, tạo ra gánh nặng tài chính. Ngày nay nhiều "thành phố ma" đang dần dần trở nên đông đúc hơn, và chắc trong tương lai không xa hầu hết sẽ trở thành đô thị phồn vinh. 


(nguồn ảnh: matthewniederhauser.com) 

Tổ chức hành chính của các đô thị

Tổ chức hành chính Trung Quốc bao gồm 5 cấp: i) cấp chính phủ Trung ương; ii) cấp tỉnh; iii) cấp địa khu; iv) cấp huyện; và v) cấp hương trấn. Do đó tổ chức hành chính đô thị gồm 4 cấp từ tỉnh trở xuống. Cụ thể như sau:

  1. Thành phố trực thuộc Trung Ương (trực hạt thị), tương đương cấp tỉnh;
  2. Thành phố cấp địa khu (địa cấp thị) thuộc tỉnh;
  3. Thành phố cấp huyện (huyện cấp thị) thuộc địa khu;
  4. Trấn thuộc huyện.

Thành phố cấp địa khu là đô thị tương đương địa khu trực thuộc tỉnh, bao gồm loại bình thường và loại “cấp phó tỉnh” có quy chế tự chủ cao. Trung Quốc có 15 thành phố cấp phó tỉnh là: Thẩm Dương, Đại Liên, Trường Xuân, Cáp Nhĩ Tân, Tế Nam, Thanh Đảo, Nam Kinh, Ninh Ba, Hàng Châu, Hạ Môn, Vũ Hán, Quảng Châu, Thâm Quyến, Tây An và Thành Đô.

Các thành phố cấp phó tỉnh là thành phố rất lớn nhưng do Nhà nước không muốn tăng số thành phố trực thuộc nên dù thuộc tỉnh nhưng được nâng lên thành “thành phố cấp phó tỉnh” để giao quyền tự chủ, không phải chịu sự quản lý hành chính trực tiếp của cấp tỉnh.

Tương tự như vậy, thành phố cấp huyện là thành phố tương đương huyện trực thuộc địa khu, cũng gồm loại bình thường và loại cấp phó huyện có quy chế tự chủ cao.

Nói chung, chính quyền thành phố (thị) gồm thị trưởng, phó thị trưởng, bí thư trưởng và giám đốc các cục và các ủy ban. Thị trưởng và phó thị trưởng do Hội đồng nhân dân bầu ra. Cũng tương tự như vậy với chính quyền các trấn. Ở vùng dân tộc thì trưởng trấn phải là người dân tộc.

Ngoài loại hình chính quyền đô thị bình thường còn có loại hình chính quyền đặc thù của 5 khu tự trị và 2 đặc khu hành chính Hồng Công và Áo Môn (Macao), chính quyền các đặc khu kinh tế, vùng phát triển kinh tế, vùng công nghiệp mỏ và vùng bảo tồn thiên nhiên. 

Các đặc điểm đô thị hóa Trung Quốc 

Do nhiều nguyên nhân về chính sách, pháp lý và quy hoạch mà đô thị hóa Trung Quốc có một số đặc điểm sau đây[9]:

1. Về mức độ đô thị hóa và tăng trưởng đô thị

Trong gần 40 năm trở lại đây, dân số đô thị Trung Quốc tăng thêm khoảng 500 triệu người.

Trong giai đoạn 1990-2001, tốc độ tăng trưởng dân số đô thị hàng năm của Trung Quốc chỉ đạt 3-4%, thấp hơn tốc độ tương ứng thường là 5-6% của các nước đang phát triển trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh. Năm 2008, tỷ lệ đô thị hóa của Trung Quốc là 45,7% trong khi các nước có cùng mức thu nhập quốc dân đầu người đạt tỷ lệ 55%. Các số liệu trên chứng tỏ Trung Quốc đô thị hóa dưới mức (under-urbanized). Nguyên nhân là chính sách hộ khẩu đã hạn chế dòng di cư từ nông thôn vào thành phố. Theo Cục Thống kê quốc gia, tổng số lao động nông nghiêp tại nông thôn (đã trừ số làm việc tại các doanh nghiệp hương trấn) năm 1978 là 278 triệu người thì năm 2007 tăng lên đến 326 triệu người chứ không giảm xuống. Khác với nhiều nước lớn khác như Ấn Độ hay Bra Xin, trình độ học vấn của nông dân Trung Quốc tương đối cao, 70% tốt nghiệp cấp II, nên khi nhập cư vào thành phố họ dễ dàng vào học các lớp đào tạo nghề. Đó cũng là một lợi thế lớn.

Về nguồn gốc xuất cư thì kết quả điều tra khảo sát của Cục Thống kê quốc gia cho biết năm 2012 tổng số lao động nhập cư là 262,61 triệu người, trong đó 99,25 triệu người là nông dân “tại chỗ” do chuyển hương thành trấn, cùng với 32,67 triệu người đến từ các làng xã cùng huyện, cộng lại chiếm 50,2%, còn 54,22 triệu người đến từ các huyện cùng tỉnh, chiếm 20,6% và 76,47 triệu người đến từ tỉnh ngoài, chiếm 29,2%.

2. Chênh lệch thu nhập giữa đô thị và nông thôn rất lớn và ngày càng tăng

Do chênh lệch năng suất lao động nên chênh lệch giữa thu nhập đô thị và nông thôn rất lớn, đến 3,3 lần vào năm 2008, vì vậy khi người nông dân vào đô thị thì sẽ tăng được năng suất lao động và thu nhập của mình. Nếu nông nghiệp sớm được cơ giới hóa và hiện đại hóa thì năng suất lao động nông nghiệp tăng lên và khoảng cách thu nhập giữa đô thị và nông thôn dần thu hẹp lại rồi bị xóa bỏ, chẳng hạn ở Hàn Quốc là vào năm 1991, ở Sri Lanka và Đài Loan cũng tương tự. Thế nhưng chênh lệch đó ở Trung Quốc từ 2, 8 lần năm 1995 đã không ngừng tăng lên, phản ánh tình trạng kém đầu tư vào nông nghiệp.

3. Quá nhiều đô thị nhỏ

Do chính sách hạn chế di cư và khuyến khích đô thị hóa tại chỗ, “ly nông bất ly hương”, nên dòng người di cư từ nông thôn ra đô thị chủ yếu diễn ra trong nội vùng trong thập kỷ 80. Sang thập kỷ 90 thì đô thị hóa thực hiện một nửa thông qua chuyển đổi vùng nông thôn thành vùng đô thị. Hậu quả là đô thị hóa phân tán, quy mô nhỏ, nhiều “đô thị” có tỷ lệ dân số phi nông nghiệp không cao! Vì vậy trước khi bước vào thế kỷ XXI, Trung Quốc có quá nhiều đô thị thành phố cấp huyện, chưa phát triển đúng mức nên không phát huy được hiệu ứng “tiết kiệm nhờ tụ tập” (agglomeration economies), hạn chế năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế đô thị.

4. Cơ cấu kinh tế đô thị

Do hậu quả cùa nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, công nghiệp và dịch vụ trong đô thị phát triển theo hướng đa dạng ngành nghề, ít tập trung chuyên môn hóa cao, mỗi ngành thường có quy mô nhỏ nên ít tận dụng được hiệu ứng “tiết kiệm nhờ quy mô” (economies of scale). Các thành phố lớn vẫn coi trọng công nghiệp hơn dịch vụ trong khi nên ngược lại, chuyển bớt công nghiệp cho các thành phố vừa và nhỏ để tập trung phát triển dịch vụ và công ngiệp công nghệ cao. Có một nguyên nhân là với công nghiệp thì thành phố thu được thuế VAT cao mà ít chú ý rằng với dịch vụ thì lại thu được nhiều thuế lợi nhuận doanh nghiệp hơn. 

5. Nhị nguyên trong xã hội đô thị

Đô thị lớn lên nhờ có dòng nông dân di cư vào đô thị, nhưng đô thị lại kỳ thị họ, khiến xã hội đô thị bị chia tách làm hai khối thị dân bản địa và người nhập cư. Người nhập cư muốn kiếm việc làm ổn định thường xuyên nhưng người đô thị lại chỉ xem họ là “dân công” lao động tạm thời tại các khu vực xa trung tâm, làm các công việc nhọc nhằn bẩn thỉu mà dân đô thị không muốn làm. Theo kết quả nghiên cứu của học giả Trung Quốc[10] thì khi có cùng công việc và cùng trình độ văn hóa, chênh lệch lương giữa người bản địa và người nhập cư có thể đến 40%. Người nhập cư ở trọ trong những ngôi nhà tư nhân nhếch nhác, thiếu thốn hạ tầng tại các “làng đô thị” ven n

ashui.com
Tags

[Trở về] [Đầu trang] In bài viết Gửi cho bạn bè

Các tin khác:
Story
Mở tuyến taxi nước Hồ Tây: Nên “cởi mở” với những ý tưởng mới
“Để tránh ùn tắc giao thông, nhiều nước trên thế giới đã áp dụng thành công mô hình taxi nước. Việc này không những giảm tải được ách tắc giao thông, mà còn đồng thời kết hợp phát triển du lịch. Chúng ta nên tổng kết lại các mô hình hiện đại của thế giới và dựa trên cơ sở đó áp dụng cho giao thông Hà Nội”.
Thăm dò ý kiến
Bạn thường lấy văn bản pháp lý về xây dựng từ đâu?
Download trên mạng
Đi mua
Từ cơ quan
Từ bạn bè đồng nghiệp
Thống kê truy cập
Số người online:   0006
Lượt truy cập   3271046